Logo
 



Thứ năm, ngày 24/07/2014
Hoạt động nghiệp vụ » Tín dụng đầu tư
Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 75/2011/NĐ-CP về TDĐT, TDXK của Nhà nước từ 20/4/2012
(13/03/2012)
Ngày 2/3/2012 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 35/2012/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 20/4/2012.
Thông tư này áp dụng cho các dự án, khoản vay ký hợp đồng vay vốn TDĐT, TDXK và hỗ trợ sau đầu tư lần đầu (bao gồm các dự án vay vốn đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư, các hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu) kể từ ngày Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về TDĐT, TDXK của Nhà nước có hiệu lực thi hành (ngày 20/10/2011).
Về cho vay tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, Thông tư hướng dẫn đối tượng, điều kiện, mức vốn, thời hạn, đồng tiền, lãi suất cho vay thực hiện theo quy định tại Mục 1 Chương II Nghị định số 75/2011/NĐ-CP. Đồng thời, Thông tư hướng dẫn rõ hơn, đối với trường hợp NHPT huy động vốn của nước ngoài để cho vay theo các chương trình tín dụng có mục tiêu, đối tượng vay vốn phải nằm trong danh mục các dự án được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước và phải tuân thủ đúng các điều kiện, điều khoản quy định tại NĐ 75/2011/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là “NĐ 75”). Trường hợp nhà tài trợ nước ngoài có yêu cầu các điều kiện, điều khoản khác với quy định tại NĐ 75, NHPT phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét chấp thuận trước khi thực hiện.
Đối với mức vốn cho vay, Thông tư hướng dẫn rõ thêm, theo đó, dư nợ cho vay để xác định giới hạn mức vốn cho vay đối với mỗi chủ đầu tư, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu nước ngoài không vượt quá 15% vốn điều lệ thực có của NHPT. Bao gồm: a) dư nợ cho vay tín dụng đầu tư (gồm cả cho vay theo chương trình tín dụng có mục tiêu sử dụng vốn nước ngoài); b) dư nợ cho vay tín dụng xuất khẩu; c) các khoản cho vay khác (trừ các khoản cho vay từ nguồn vốn do NHPT nhận ủy thác, ủy quyền cho vay lại). Dư nợ cho vay để xác định giới hạn mức cho vay bao gồm cả nợ trong hạn, nợ đã được gia hạn nợ, nợ quá hạn và nợ khoanh. Đối với khách hàng đã vay vốn, NHPT quyết định mức vốn cho vay đối với từng trường hợp cụ thể trên cơ sở mức dư nợ đã vay và số vốn còn giải ngân theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết tại NHPT, đảm bảo nguyên tắc không vượt quá mức vốn cho vay tối đa đối với mỗi chủ đầu tư, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu nước ngoài quy định tại NĐ 75.
Về tín dụng xuất khẩu, đối tượng, hình thức, điều kiện, mức vốn, thời hạn, đồng tiền, lãi suất cho vay, giải ngân, thu nợ thực hiện theo quy định tại Chương III NĐ 75. Nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu nước ngoài phải huy động đủ các nguồn vốn với các điều kiện tín dụng cụ thể để thực hiện hợp đồng xuất khẩu ngoài phần vốn vay tín dụng xuất khẩu của NHPT.
Về lãi suất cho vay tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu, theo quy định tại NĐ 75, lãi suất cho vay đầu tư không thấp hơn lãi suất bình quân các nguồn vốn cộng với phí hoạt động của NHPT. Mức lãi suất bình quân các nguồn vốn và chi phí hoạt động của NHPT do Tổng Giám đốc NHPT tính toán, báo cáo Chủ tịch Hội đồng quản lý NHPT trình Bộ Tài chính công bố. Trường hợp lãi suất huy động bình quân có biến động lớn, Chủ tịch Hội đồng quản lý NHPT báo cáo Bộ Tài chính điều chỉnh lãi suất cho phù hợp. Thông tư hướng dẫn quy định: định kỳ kết thúc hàng quý và năm, NHPT tính toán, xác định lãi suất bình quân các nguồn vốn, chi phí hoạt động và đề xuất mức lãi suất cho vay TDĐT, TDXK của Nhà nước theo quy định tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế quản lý tài chính đối với NHPT và các văn bản hướng dẫn để báo cáo Bộ Tài chính.
Căn cứ báo cáo tính toán lãi suất bình quân các nguồn vốn, chi phí hoạt động và đề xuất mức lãi suất cho vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước của NHPT; căn cứ tình hình lãi suất cho vay trên thị trường và kế hoạch cấp bù chênh lệch lãi suất đã được thông báo, Bộ Tài chính xem xét quyết định mức lãi suất tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.
Trường hợp lãi suất huy động vốn bình quân trên thị trường và của NHPT có biến động tăng, giảm 10% so với thời điểm tính lãi suất liền kề, NHPT tính toán lại lãi suất bình quân các nguồn vốn, chi phí hoạt động và đề xuất mức lãi suất cho vay TDĐT, TDXK của Nhà nước để báo cáo Bộ Tài chính xem xét quyết định việc điều chỉnh lãi suất.
Về bảo đảm tiền vay, theo quy định tại NĐ 75, các chủ đầu tư, nhà xuất khẩu khi vay vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước phải thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Các biện pháp bảo đảm tiền vay bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, sử dụng tài sản hình thành trong tương lai và các biện pháp bảo đảm khác (nếu có) theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm.
NHPT căn cứ năng lực, tình hình tài chính của chủ đầu tư, nhà xuất khẩu; dự án vay vốn TDĐT, phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay; mức độ tín nhiệm của chủ đầu tư, nhà xuất khẩu để quyết định cụ thể biện pháp bảo đảm tiền vay, mức bảo đảm tiền vay tối thiểu.
Nhà nhập khẩu nước ngoài khi vay vốn TDXK của Nhà nước phải được Chính phủ hoặc ngân hàng trung ương hoặc các tổ chức tài chính thực hiện chức năng TDĐT, TDXK của nước bên nhà nhập khẩu đã cấp bảo lãnh vay vốn theo qui định tại khoản 5 Điều 17 Nghị định số 75/2011/NĐ-CP.
Trong thời gian chưa trả hết nợ, chủ đầu tư, nhà xuất khẩu không được chuyển nhượng, bán, cho thuê, cho mượn hoặc thế chấp, cầm cố tài sản bảo đảm nếu không được sự đồng ý của NHPT.
NHPT được xử lý tài sản bảo đảm trong các trường hợp: a) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà chủ đầu tư, nhà xuất khẩu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; b) Chủ đầu tư, nhà xuất khẩu phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; c) Pháp luật quy định tài sản bảo đảm phải được xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác; d) Các trường hợp khác do NHPT thỏa thuận với chủ đầu tư, nhà xuất khẩu trong hợp đồng bảo đảm tiền vay hoặc pháp luật quy định.
Thông tư quy định NHPT căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành về giao dịch bảo đảm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về quy trình tiếp nhận, thủ tục tiếp nhận tài sản, ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay, đăng ký giao dịch bảo đảm trong đó quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các bên để thống nhất thực hiện trong toàn hệ thống.
Về xử lý rủi ro, Thông tư nêu rõ, trong trường hợp chủ đầu tư, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu nước ngoài gặp rủi ro bất khả kháng không trả được nợ qui định; các công ty TNHH một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn khi thực hiện chuyển đổi sang mô hình đa sở hữu gặp khó khăn về tài chính và các trường hợp rủi ro khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định thì được xem xét xử lý rủi ro theo Quy chế xử lý rủi ro vốn TDĐT, TDXK của Nhà nước tại NHPT do Thủ tướng Chính phủ quy định và hướng dẫn thực hiện của Bộ Tài chính.
Thông tư này thay thế cho các Thông tư: số 69/2007/TT-BTC ngày 25/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ; số 16/2009/TT-BTC ngày 22/1/2009 của Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư số 69/2007/TT-BTC./.
Thanh Tùng – Gia Khánh (Tạp chí Hỗ trợ phát triển)

:: Các tin khác
Đoàn công tác NHPT làm việc tại Chi nhánh NHPT Trà Vinh (07/03/2012)
Nhà máy chế biến lâm sản công suất lớn nhất Lào Cai đi vào hoạt động (07/03/2012)
Chi nhánh NHPT Đồng Nai thử nghiệm quy trình sử dụng Hệ thống VDBCIS (07/03/2012)
Sở Giao dịch II tổ chức Hội nghị cán bộ viên chức năm 2012 (05/03/2012)
Chi nhánh NHPT Nghệ An ký hợp đồng điều chỉnh cho dự án Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung (21/02/2012)
 
                                                                              
TIN MỚI ĐĂNG
                   
 Trang thông tin điện tử Ngân hàng Phát triển Việt Nam
 
 Giấy phép số : Số 05/GP-TTĐT, do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 07/03/2014
 Cơ quan chủ quản : Ngân hàng Phát triển Việt Nam
 Người chịu trách nhiệm chính : Bà Đào Dung Anh. Phó Tổng giám đốc NHPT
 Địa chỉ : 25A Cát Linh - Đống Đa - Hà Nội
 Điện thoại: (84-4) 3736 5659 - Fax: (84-4) 3736 5672 Email:congthongtin@vdb.gov.vn